VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
CÁC ĐỀ TÀI NAFOSTED ĐÃ THỰC HIỆN TRONG NĂM 2011
|
TT |
Tên
đề tài, nhiệm vụ |
Chủ
nhiệm, cơ quan chủ trì, phối hợp |
Mục
tiêu |
Tóm
tắt các kết quả đã
đạt được (* ) |
Thời
gian |
Tổng
kinh phí (triệu
đồng) |
Kinh phí 2011 (triệu đồng) |
||||||
|
Các đề tài kết thúc năm 2011 |
|||||||||||||
|
1.
|
Điều tra đa dạng sinh học thú, chim, bò sát,
ếch nhái ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha và vùng phụ cận (tỉnh Sơn La), đề xuất giải pháp quản
lý, bảo tồn (Thuộc hướng: Đa dạng sinh
học) |
Chủ nhiệm: PGS. TS. Nguyễn Xuân Đặng CQCT: Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật |
1. Xác định được tối đa thành phần loài của khu hệ thú,
chim, bò sát và ếch nhái ở vùng nghiên cứu, đặc biệt chú trọng đến những loài
hiếm, loài chưa được phát hiện và những loài đang bị nguy cấp. 2. Xác định được đặc điểm phân
bố và một số đặc điểm sinh học, sinh thái khác của một số loài quan trọng
trong vùng nghiên cứu phục vụ bảo tồn nguồn gen và biên soạn động vật chí
Việt 3. Đánh giá tầm quan trọng của
khu hệ động vật nghiên cứu đối với phát triển kinh tế và bảo tồn đa dạng sinh học 4. Xác định khu vực và đối
tượng cần ưu tiên bảo tồn. Đề xuất các giải pháp quản lý và bảo tồn có hiệu
quả nguồn tài nguyên động vật hoang dã ở vùng nghiên cứu |
1. Đã xây dựng được các Danh lục động vật có xương sống
trên cạn cấp nhật nhất cho KBTTN Xuân Nha, gồm 92 loài thú thuộc 29 họ và 9
bộ; 202 loài chim thuộc 44 họ và 14 bộ; 50 loài bò sát thuộc 16 họ và 2 bộ;
28 loài ếch nhái thuộc 6 họ, 1 bộ; cho thấy khu hệ động vật có xương sống ở đây
khá đa dạng. 2. Đã bổ sung cho các danh lục trước đây thêm: 11 loài
thú, 57 loài chim, 7 loài bò sát và 6 loài ếch nhái; thu được mẫu vật loài
chuột bụng vạch (Pseudoberylmys
muongbangensis) mới ghi nhận năm 2008 ở Việt Nam và phát hiện một loài dơi
mới cho khoa học (Murina fuscoventer). 3. Đã phân tích sự phân bố của các loài động vật có xương
sống nghiên cứu theo
3 dạng sinh cảnh: Sinh cảnh rừng thường xanh nguyên sinh, ít bị tác động (SC1)
có 56.7% tổng số loài; Sinh cảnh rừng thường xanh thứ sinh đang phục hồi
(SC2) có 78.2% tổng số và số loài Sinh cảnh trảng cỏ cây bụi, nương
rẫy và quanh khu dân cư (SC3) có 51.3
% tổng số loài ghi nhận. Từ đó cho thấy, các 3 sinh cảnh đều quan trọng, song
SC1 và SC2 cực kỳ quan trọng đối với bảo tồn đa dạng sinh học ở KBTTN Xuân
Nha. 4. Đã phân tích sự phân bố của các loài động vật có xương
sống nghiên cứu theo
theo 2 đai sinh cảnh chính: Đai cao dưới 1.000m có đa số các loài phân bố
(88.2% tổng số loài ghi nhận); Đai cao trên 1.000 m có ít loài cư trú hơn, nhưng
cũng chiếm 43.8% tổng số loài ghi nhận. Điều đó cho thấy, cả 2 đai sinh cảnh đều
quan trọng cho bảo tồn đa dạng sinh học ở KBTTN Xuân Nha, nhưng cần đặc biệt
quan tâm đến đai cao dưới 1.000m vì có số loài phân bố nhiều hơn và mức độ
tác động của con người cao hơn. 5. Đã thu thập được 199 mẫu động vật, bao gồm 84 mẫu
thú của 66 loài, 23 mẫu chim của 12 loài và 92 mẫu bò sát, ếch nhái của 34
loài. Cùng với các mẫu này là các tư
liệu về sinh học sinh thái của các loài nghiên cứu. Đây là cơ sở dữ liệu quan
trọng phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo. 6. Đã bước đầu đánh giá độ phong phú của các loài ghi
nhận. Kết quả cho thấy, có 39.2% số
loài có độ phong phú ở mức “nhiều”, 43.% số loài ở mức “ít” và 17.7% số loài
ở mức “rất ít”. Số liệu này cho thấy độ phong phú của khu hệ động vật có xương
sống ở KBTTN Xuân Nha đã bị suy giảm đáng kể. Trong đó, lớp Bò sát bị suy giảm nhiều nhất,
tiếp đến là lớp Thú, lớp Chim và lớp Ếch nhái. Một số loài có thể đã tuyệt chủng
tại khu bảo tồn như: vượn má trắng, voọc đen má trắng, voọc xám,…. 7. Dựa trên kết quả phân tích trình tự DNA ty thể của các mẫu sóc
giống Tamiops thu được ở Việt Nam,
Trung Quốc và Thái Lan, đã xác định nhóm này có sự đa dạng taxon thực tế cao
hơn số liệu hiện nay thường được đánh giá dựa trên các đặc điểm hình thái
ngoài, đồng thời, đã phân tích mối quan hệ tiến hóa của các loài thuộc nhóm
này. 8. Đã xác định giá trị kinh tế tiềm năng của khu hệ động
vật có xương sống ở KBTTN Xuân Nha được đánh giá theo 5 nhóm giá trị chính,
cho thấy khu hệ động vật nghiên cứu có giá trị kinh tế rất cao, bao gồm 311
loài cung cấp thực phẩm (chiếm 84.5 % tổng số loài), 63 loài cung cấp dược
liệu (17.1%), 209 loài cung cấp da, lông (56.8%) và 201 loài làm sinh vật
cảnh (54.6%) và nhiều loài có sức hấp
dẫn thu hút khách du lịch rất cao, giúp phát triển dịch vụ du lịch sinh thái
ở Khu bảo tồn và địa phương. 9. Đã xác định được khoảng 96 loài có giá trị kinh tế
rất cao có thể là đối tượng phát triển nhân nuôi vì mục đích kinh tế ở địa phương,
gồm 22 loài thú, 53 loài chim, 18 loài bò sát và 3 loài ếch nhái. 10. Đánh giá giá
trị bảo tồn nguồn gen, Đề tài đã chỉ khu hệ động vật nghiên cứu rất đa dạng,
với 372 loài đã được ghi nhận, chiếm 22.2% tổng số loài đã biết ở Việt Nam; tương
đương với giá trị đa dạng sinh học đã ghi nhận ở một số vườn quốc gia. Đồng
thời, đã xác định được 51 loài nguy cấp, quý, hiếm, bao gồm 46 loài bị đe doạ cấp quốc gia, 28 loài bị
đe doạ cấp toàn cầu và 35 loài thuộc
Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ. Trong đó cần đặc biệt chú ý đến 2 nhóm
có ý nghĩa bảo tồn đặc biệt cao là bộ Linh trưởng (8 loài) và bộ Rùa (7
loài). 11. Đã xác định được 7 đe dọa trực tiếp đối với khu hệ động
vật có xương sống nói riêng và các giá trị đa dạng sinh học nói riêng của
KBTTN Xuân Nha, bao gồm: 1) Săn bắn, bẫy bắt động vật hoang dã, 2) Phá rừng
lấy đất sản xuất nông nghiệp, 3) Khai thác gỗ trái phép, 4) Khai thác quá mức
lâm sản ngoài gỗ, 5) Cháy rừng do đốt nương rẫy và dùng lửa trong khu bảo
tồn, 6) Chăn thả gia súc tự do trong khu bảo tồn, 7) Phát triển cơ sở hạ tầng
trong khu bảo tồn. Trong đó, các đe dọa (1), (2), (3) và (7) là nghiêm trọng
nhất. Đồng thới, đã chỉ ra sự hạn chề trong năng lực quản lý bảo tồn của Ban
quản lý KBTTN Xuân Nha. 12. Để tăng cường hiệu quản quản lý, bảo tồn khu hệ động
vật hoang dã nói riêng và các giá trị đa dạng sinh học nói chung ở KBTTN Xuân
Nha, Đề tài đã đề xuất 5 nhóm giải pháp chính là: 1) Xác định các khu vực ưu
tiên bảo tồn để tập trung nguồn lực quản lý và lựa chọn biện pháp quản lý phù
hợp; 2) Xây dựng và thực hiện chương trình giám sát đánh giá đa dạng sinh học
và các đe dọa chính; 3) Điều tra nghiên cứu tình trạng quần thể của một số
loài có gía trị bảo tồn cao; 4) Tăng cường
tuần tra rừng và thực thi pháp luật liên quan đến các vi phạm quản lý bảo vệ
rừng, bảo tồn đa dạng sinh học; và 5) Nâng cao nhận thức bảo tồn của cộng đồng
và tăng cường lợi ích của khu bảo tồn cho cộng đồng. 13. Đề tài đã công bố được 2 bài báo trên tạp chí khoa
học quốc tế thuộc danh mục ISI, đã gửi đăng 01 bài và đang hoàn thiện 1 bài
khác để gửi đăng trên tạp chí khoa học quốc tế thuộc danh mục ISI; đã đăng được
3 bài trên tập chí khoa học chuyên ngành trong nước (2 bài trên Tạp chí Công
nghệ Sinh học, 1 bài trên Tạp chí Sinh học) và có 2 bài được thuyết trình tại
Hội nghị khoa học quốc gia. 14. Đề tài đã góp phân đào tạo 01 nghiên cứu sinh và 01
thạc sỹ đã bảo vệ thành công luận án. |
2010-2011 |
300 |
105 |
||||||
|
2.
|
Đề tài: Nghiên cứu sự đa dạng, tính đặc hữu khu hệ
và giá trị bảo tồn ong cánh màng ở Việt (Thuộc hướng: Khoa học sự
sống) |
Khuất
Đăng Long, Viện Sinh thái & TNSV, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội |
Khảo sát và thống kê hai nhóm ong cánh màng: ong ký
sinh họ Braconidae và Ichneumonidae và ong bắt mồi họ Vespidae, tập trung ở
một số vườn quốc gia và khu bảo tồn của Việt Nghiên cứu hệ thống sự đa dạng và tính đặc hữu về
khu hệ của hai nhóm ong cánh màng nói trên, tập trung vào ghi nhận mới và
phát hiện các taxon mới
cho khoa học (loài/ có thể là giống mới). Làm sáng tỏ ý nghĩa kinh tế và giá trị bảo tồn của
hai nhóm ong cánh màng nói trên ở Việt |
Đã công bố được 28 loài mới cho
khoa học từ khu hệ nhóm ong cánh màng thuộc tổng họ Ichneumonoidea của Việt
Nam, trong số đó có 23 loài thuộc họ Braconidae và 5 loài thuộc họ
Ichneumonidae (các loài mới được công bố trên 4 Tạp chí SCIE và 2 Tạp
chí ZOOLOGICAL RECORD). Chứng minh tính chất đặc hữu của
khu hệ ong ký sinh họ Braconidae ở Việt Nam qua việc thống kê và phân tích 10
giống và 184 loài được mô tả là loài mới từ khu hệ của Việt Nam từ năm 1921
đến 2011. Lần đầu tiên hệ đưa ra kết quả
nghiên cứu ở vùng đệm vườn quốc gia Xuân Sơn về đa dạng thành phần loài ong
cánh màng ở thuộc các họ ong mật Apidae, ong bắt mồi Vespidae và 2 họ ong ký
sinh Braconidae và Ichneumonidae. Nghiên
cứu thành phần và một số đặc điểm sinh học một số loài ong ký sinh cánh màng
thuộc họ Braconidae và Ichneumonidae và đưa ra khả năng sử dụng trong phòng
trừ sâu hại trên đậu đỗ và rau ở Việt |
2009-2011 |
310,0 |
108,5 |
||||||
|
3 |
“Kết hợp phương pháp sinh học phân tử và hình thái trong nghiên cứu phân loại các họ Thiên lý
(Asclepiadaceae) và Trúc đào (Apocynaceae) ở Việt |
TS. Trần Thế Bách chủ nhiệm |
Kết
hợp dữ liệu sinh học phân tử và hình thái học để tìm hiểu mối quan hệ gần gũi
có thể của các nhóm taxon trong các họ Asclepiadaceae, Apocynaceae. Bổ sung
dẫn liệu về mặt sinh học phân tử và hình thái học để góp phần khám phá các loài
bổ sung cho hệ thực vật Việt |
-
Đã xây dựng sơ đồ mối quan hệ gần gũi có thể của các taxon thuộc các họ
Asclepiadaceae và Apocynaceae dựa trên dữ liệu trình tự gen ITS và MatK. Các
chi có mối quan hệ gần gũi với nhau: chi Metaplexis, Philibertia,
Blepharodon, Nephradenia, Gonolobus, Matelea, Tylophora, Cynanchum,
Calotropis thuộc tông Asclepiadeae; chi Marsdenia, Dischidia, Hoya, Dregea,
Gymnema thuộc tông Marsdenieae; chi Finaysonia, Streptocaulon, Gymnanthera,
Cryptolepis, Hemidesmus thuộc phân họ Periplocoideae; chi Beaumontia,
Anodendron, Rhynchodia thuộc phân họ Apocynoideae; chi Adenium, Nerium thuộc
phân họ Nerioideae; chi Alyxia, Condylocarpon thuộc phân họ Alyxioideae; chi
Allamandra, Plumeria thuộc phân họ Plumerioideae; chi Molongnum,
Tabernaemontana thuộc phân họ Tabaernaemontanoideae; chi Bousigonia,
Catharanthus thuộc phân họ Willughbeoideae. Được thể hiện qua 2 sơ đồ (Sơ đồ
1 và 2) -
Đã phát hiện 1 loài bổ sung (Dregea cuneifolia) cho hệ thực vật Việt Nam, 3
loài mới cho khoa học (Heterostemma xuansonense, Hoya sapaensis, Hoya
ignorata), đây sẽ là những công bố khoa học quan trọng trong lĩnh vực phân
loại thực vật đối với Việt Nam và thế giới. -
Đề xuất hệ thống phân loại thực vật mới cho một số nhóm taxon nghiên cứu với
sự hợp tác khoa học với các nước. Đây sẽ là đóng góp không nhỏ cho việc xây
dựng Hệ thống phát sinh chủng loại của cả 2 họ Asclepiadaceae và Apocynaceae
là các họ mà các nhà phân loại và hệ thống học thế giới đang quan tâm bàn
luận (Bảng 1). -
Đã đọc trình tự 78 loài, trong đó 78 loài đọc trên gen MatK, 54 loài trên gen
ITS. Các dẫn liệu về trình tự gen mới sẽ đóng góp to lớn vào ngân hàng gen trên
thế giới, là bằng chứng quan trọng cùng với đặc điểm hình thái để khẳng định
về taxon nào đó (Bảng 2). -
Các dẫn liệu kết hợp giữa trình tự gen và đặc điểm hình thái là cơ sở rất quan
trọng để sử dụng chính xác, hợp lý, phát triển, bảo tồn các loài thực vật.
Việc xây dựng mối quan hệ phát sinh chủng loại của các taxon thực vật đang ngày
càng phổ biến trong các công trình về phân loại học. Các chương trình máy tính
đã trở thành yếu tố rất quan trọng để góp phần cho sự thành công trong các công
trình trên. PAUP là một trong những chương trình máy tính hiện đại được ứng
dụng phổ biến nhất trong các công trình về tìm hiểu mối quan hệ phát sinh
chủng loại của các taxon thực vật. Chúng tôi ứng dụng chương trình máy tính
Paup * (version 4.0b10) để tìm hiểu mối quan hệ gần gũi có thể giữa các chi
của họ Asclepiadaceae ở Việt Đặc
điểm và mã hóa các đặc điểm: 1. Cây leo hay trườn: 0; cây thảo
hay bụi đứng: 1; cây dạng xương rồng: 2 2. Thân không có cạnh: 0; thân có
cạnh: 1 3. Cây không có lá (lá tiêu giảm):
0; cây có lá: 1 4. Lá không nạc: 0; Lá nạc: 1 5. Tràng tiền khai van: 0; tràng phủ
nhau: 1 6. Tràng hình chuông: 0; tràng hình
cái hũ: 1; tràng hình cái kèn trumpet: 2; tràng hình bánh xe: 3. 7. Không có tràng phụ: 0; tràng phụ đơn:
1; tràng phụ kép: 2 8. Không có tràng phụ: 0; tràng phụ
không dính với tràng: 1; tràng phụ dính với tràng: 2 9. Chỉ nhị rời hay gần rời: 0; chỉ
nhị dính nhau: 1 10. Bao phấn 4 ô: 0; bao phấn 2 ô: 1. 11. Bao phấn không có phần phụ ở đỉnh:
0; bao phấn có phần phụ ở đỉnh: 1 12. Không có cơ quan truyền phấn: 0; Cơ
quan truyền phấn hình thìa có đáy mở
rộng thành đĩa dính mềm, không có gót đính:
1; cơ quan truyền phấn có gót đính với 4 khối phấn: 2; cơ quan truyền phấn
với 2 khối phấn: 3. 13. Tập hợp hạt phấn không dính chặt với
cơ quan truyền phấn: 0; tập hợp hạt phấn dính chặt với cơ quan truyền phấn: 1 14. Hạt phấn họp thành tứ tử: 0; Hạt
phấn họp thành khối phấn, không có sáp bao bên ngoài vách khối phấn: 1; hạt
phấn dính thành khối phấn và có sáp bao bên ngoài vách khối phấn: 2 15. Pollinarium không có khối phấn: 0;
Pollinarium có 1 khối phấn: 1; Pollinarium có 2 khối phấn: 2; Pollinarium có
4 khối phấn: 3. 16. Không có khối phấn hoặc không có tứ
tử: 0; tập hợp hạt phấn (khối phấn hoặc tứ tử) đứng: 1; tập hợp hạt phấn
(khối phấn hoặc tứ tử) treo: 2 17. Không có “ khối phấn có mỏm ở đỉnh”:
0; khối phấn có mỏm ở đỉnh: 1 18. Cơ quan truyền phấn không có chuôi:
0; cơ quan truyền phấn có chuôi: 1 19. Hạt phấn họp thành tứ tử: 0; Hạt
phấn họp thành khối phấn: 1. 20. Không có phần gót đính: 0; có gót đính:
1 21. Không có đĩa dính: 0; có đĩa dính:
1. 22. Đỉnh bầu không thót lại: 0; đỉnh bầu
thót lại: 1. Nhập
dữ liệu trong ma trận vào chương trình máy tính Paup * (version 4.0b10), áp
dụng phương pháp MP – Maximum Parsimony và ứng dụng chương trình TreeView để
xem kết quả. Sơ
đồ chỉ ra: Phân
họ Periplocoideae – Tông Periploceae gồm: Atherandra, Atherolepis,
Cryptolepis, Finlaysonia, Gymnanthera, Hemidesmus, Myriopteron, Periploca,
Streptocaulon, Telectadium, Zygostelma. 2 chi Hemidesmus, Finlaysonia có mối
quan hệ gần gũi với tông Secamoneae. Phân
họ Secamonoideae – Tông Secamoneae gồm: Genianthus, Secamone, Toxocarpus. Phân
họ Asclepiadoideae Tông
Fockeae: Fockea nằm vị trí trung gian giữa 2 phân họ Secamonoideae và
Asclepiadoideae. Tông
Marsdenieae: Campestigma, Cosmostigma, Dischidanthus, Dischidia, Dregea,
Gymnema, Gymnemopsis, Harmandiella, Heterostemma, Hoya, Lygisma, Marsdenia,
Pentasacme, Pseudosarcolobus, Sarcolobus, Spirella, Telosma. Lygisma,
Pseudosarcolobus, Sarcolobus, Spirella gộp thành nhóm có quan hệ gần gũi với
nhau. Tông
Ceropegieae: Ceropegia, Echidnopsis, Huernia, Stapelia, Tavaresia. Tông
Asclepiadeae: Asclepias, Calotropis, Cynanchum, Gomphocarpus, Merrillanthus,
Oxystelma, Pentatropis, Raphistemma, Sarcostemma, Tylophora, Vincetoxicopsis. +
Các số bên trái là giá trị “bootstrap”, “bootstrap” lớn hơn hay bằng 50 (50%)
thể hiện độ tin cậy cao của các nhóm. Sơ
đồ chỉ ra: +
Nhóm nguyên thuỷ nhất là tông Periploceae gần gũi với Apocynum là một chi của
họ Apocynaceae, tông tiến hoá hơn kế tiếp là Secamoneae rồi Fockeae, sau đó là
Marsdenieae rồi Ceropegieae; nhóm tiến hoá nhất là Asclepiadeae. -
Các kết quả của đề tài sẽ có vai trò quan trọng trong các lĩnh vực liên quan
khác như dược học: Góp phần quan trọng trong việc nhận biết và sử dụng chính
xác các loài có công dụng làm thuốc thuộc 2 họ Thiên lý và Trúc đào ở Việt
Nam như: Catharanthus roseus (L) G. Don , Thevetia
peruviana (Pers.) K. Schum, Cryptolepis buchananii Roem. & Schult.; Dregea volubilis (L. f.) Benth. & Hook.; Oxystema esculentum (L. f) R. |
2010-2011 |
|
87,5 |
||||||
|
4 |
Đa
dạng gen và quan hệ tiến hoá của Sán lá phổi ở các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt |
TS.
Phạm Ngọc Doanh |
|
|
2009-2011 |
|
102,5 |
||||||
|
Các đề tài tiếp tục trong năm tới |
|||||||||||||
|
1 |
Đề
tài: Nghiên cứu cơ chế ảnh hưởng của nấm nội sinh không gây bệnh Fusarium oxysporum trong đấu tranh
sinh học với tuyến trùng sần rễ Meloidogyne
incognita trên cây cà chua (Thuộc
hướng: Khoa học sự sống) |
CN: TS. Vũ Thị Thanh Tâm. CQCT: CQPH: TT Tài nguyên thực vật – Viện KHNN Việt |
1) Tìm hiểu cơ chế tác động của các chủng nấm không
gây bệnh F. oxysporum khi chúng
sống cộng sinh trên cây cà chua trong việc làm hạn chế sự phát triển của
tuyến trùng sần rễ M. incognita |
1) Đã tiến hành điều tra, thu hơn 200 mẫu rễ cà chua
và 225 mẫu đất rừng tự nhiên phục vụ cho việc phân lập các chủng nấm F. oxysporum. 2) Đã phân lập được 126 chủng nấm, trong đó có 25
chủng nấm F. oxysporum không gây
bệnh, chiếm tỷ lệ 19,8%. 3) Đã phân lập được tuyến trùng ký sinh gây bệnh sần
rễ M. incognita và nhân nuôi trong
điều kiện nhà lưới phục vụ cho các nghiên cứu. 4) Đã tiến hành một số thí nghiệm đánh giá khả năng
làm giảm sự sinh trưởng và phát triển của tuyến trùng M. incognita trên cây cà chua. |
12/2010-12/2013 |
518 |
284,9 |
||||||
|
2 |
Đề tài: “Nghiên cứu tu chỉnh một số
taxon động vật không xương sống Việt (Thuộc
hướng: Khoa học sự sống) |
TS. Cao Thị Kim Thu, |
Có được dẫn liệu đầy đủ và bộ vật mẫu chuẩn
của các nhóm động vật không xương sống bao gồm họ Cánh Úp (Perlidae), nhóm
giáp xác chân chèo (Copepoda-Harpacticoida), và nhóm giáp xác chân khác
(Gammaridae-Amphipoda) cho khu hệ Bắc bộ
và Trung bộ Việt Nam, bao gồm thành phần phân loại học, đặc điểm phân
bố, một số đặc tính sinh thái đủ cơ sở cho viết tài liệu của các nhóm này
trong bộ Động vật chí Việt Nam. |
1. Lê Hùng Anh, Đặng Ngọc Thanh, 2010. Giáp xác Ampeliscidae (Amphipoda-Gammaridea) biển
Việt nam. Tạp chí Sinh học,
32(4): 40-44 ISSN 0866-7160. 12/2010. Bài
báo đã thống kê danh mục 35 loài Giáp xác họ Ampeliscidae thuộc 2 giống
(Ampeslisca và Bylis) ở vùng biển Việt Nam, trong đó giống Ampeslisca có 22
loài và giống Bylis có 13 loài. Đặc biệt công bố 6 loài mới cho khoa học cũng như cho khu hệ Việt nam. 2. Lê Hùng Anh, Đặng Ngọc Thanh, 2011. Thành phần
loài Giáp xác chân khớp (Amphipoda)
vùng biển ven bờ Việt nam. Báo cáo Khoa học về Sinh học và nguồn lợi sinh vật
biển, Hội nghị Khoa học và công nghệ biển toàn quốc lần thứ 5. NXB Khoa học
tự nhiên và công nghệ, Hà Nội, 193-204. 10/2011. Bài
báo đã mô tả 20 giống và 47 loài ghi nhận mới cho Việt nam, 3 giống và 25
loài mới cho khoa học. Một số nhận xét về mối quan hệ của đối tượng nghiên
cứu phân loại học giữa các khu vực biển Việt nam cũng được đề cập trong bài
báo này. 3. Cao Thị Kim Thu, 2011. Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài bộ Cánh úp
(Insecta, Plecoptera) ở khu rừng đặc dụng Phia Oắc, Nguyên Bình, Cao Bằng. Hội nghị côn trùng học quốc gia lần thứ 7.
NXB Nông Nghiệp, Hà Nội, 318 - 323. 5/2011. Bài
báo có thể được coi là ghi nhận đầu tiên về bộ Cánh úp ở khu vực Đông bắc nói
chung và Cao Bằng nói riêng. Kết quả nghiên cứu bước đầu đã xác định được 16
loài thuộc 12 giống và 4 họ Cánh Úp, trong đó có 1 loài mới cho khoa học (Neoperlops vietnamellus Cao & Bae) đã được công bố vào
tháng 12 năm 2008 và 1 loài (Kamimuria punctata Sivec & Stark, 2008) lần đầu tiên
ghi nhận cho khu hệ động vật Việt nam. 4.
Cao Thị Kim Thu, 2011. Danh lục các loài thuộc họ Cánh úp lớn (Perlidae,
Plecoptera, Insecta) ở Việt Bài
báo đã công bố gần như danh lục đầy đủ và cập nhật nhất của các loài thuộc bộ
Cánh úp lớn (Perlidae, Plecoptera) đã xác định được ở Việt Nam, bao gồm 70
loài thuộc 13 giống: Acroneuria (5 loài); Agnetina (2 loài); Chinoperla (4
loài); Etrocorema (1 loài); Flavoperla (3 loài); Hemacroneuria (3 loài);
Kamimuria (8 loài); Neoperla (26 loài); Neoperlops (2 loài); Phanoperla (5
loài); Sinacroneuria (1 loài); Togoperla (6 loài) và Tyloperla (4 loài).
Trong tổng số 70 loài thì có tới 55 loài mới chỉ ghi nhận được ở Việt Nam,
chưa ở nơi nào khác trên thế giới. Bài báo cũng ghi nhận mới một loài cho khu
hệ Việt 5. Duc Luong
Tran & Cheon Young Chang, 2011. Two new species of
harpacticoid copepods from anchialine caves in karst area of Bài
báo đã được phản biện và sẽ in trong số sắp tới. Trong đó hai loài mới Giáp xác chân chèo-Harpacticoida thuộc giống Microarthridion và Nitokra cho khoa học được mô tả từ vật mẫu
thu ở Ninh Bình. |
12/2009, 12//2012 |
310 |
77,5 |
||||||
|
3 |
Đề tài: Nghiên cứu khu hệ nhện trong hang động ở
khu vực Ba Bể / Nà Hang, Đông Bắc Việt (Thuộc hướng: Khoa học sự
sống) |
Phạm
Đình Sắc, |
|
-
Đã thu được tổng số 6872 cá thể nhện, trong đó có 1126 cá thể trưởng thành
tại 18 hang động khu vực Ba Bể / Nà Hang, bao gồm 11 họ nhện: Amaurobiidae, Araneidae,
Ctenidae, Gnaphosidae, Linyphiidae, Lycosidae, Ochyroceratidae, Sparassidae,
Symphytognathidae, Telemidae, Tetrablemmidae. -
Đã ghi nhận được 85 loài hình thái. Khoảng 16 loài được dự kiến là loài mới
cho khoa học. -
Các hang động có kích thước lớn cả về chiều dài và chiều rộng, cấu trúc phức
tạp với nhiều ngóc ngách có giá trị đa dạng sinh học cao hơn so với các hang
động có kích cỡ nhỏ và cấu trúc đơn giản. -
Kết quả khảo sát chỉ ra rằng những khác nhau trong sự quần tụ của khu hệ động
vật là những khác nhau ý nghĩa trong đa dạng động vật giữa khu vực phát triển
hoạt động du lịch và khu vực tự nhiên trong cùng một hang động. Phần lớn động
vật không xương sống được phát hiện ở khu vực tự nhiên. Hơn nữa, tất cả các
loài dự kiến là loài mới cho khoa học đều được phát hiện tại khu vực tự
nhiên. |
2011-2013 |
400 |
220 |
||||||
|
4 |
Đề tài: Đánh giá đa dạng sinh học và tiềm năng sử
dụng các loài bọ xít họ Reduviidae và Aradidae ở các tỉnh miền Bắc Việt (Thuộc
hướng: Sinh
thái học và bảo tồn, phát triển tài nguyên sinh học rừng và biển) |
TS.
Trương Xuân Lam |
+ Nghiên cứu về phân
loại học, xác định quan hệ họ hàng, chủng
loại phát sinh của các loài bọ xít thuộc họ Reduviidae và Aradidae và
thông qua kết quả phân loại đánh giá sự đa
dạng sinh học của chúng trong các hệ sinh thái nhiệt đới ở miền Bắc Việt Nam.
+ Xây dựng cơ sở dữ liệu về hình
thái, hình thái lượng, sinh học và mẫu vật chuẩn của các loài bọ xít
thuộc họ Reduviidae, Aradidae (bộ Heteroptera) và đánh giá ý nghĩa, tầm quan trọng của một số loài cũng như đề xuất biện
pháp bảo tồn chúng. |
-
- Đã hoàn thành 2 bộ sưu tập mẫu vật
chuẩn quốc tế và các tư liệu ảnh bao gồm: 200
mẫu vật (họ bọ xít ăn sâu Reduviidae), 76 mẫu vật (họ bọ xít dẹt Aradidae) -
- Đã hoàn thành phân loại chính xác tên khoa học của 84 loài thuộc họ
bọ xít ăn sâu Reduviidae và 36 loài thuộc họ bọ xít dẹt Aradidae (danh sách
hệ thống thành phần loài và khóa định loại tới giống, loài và ảnh chụp) -
- Mô tả, minh họa chi
tiết 60 loài (phân họ Harpactorinae), 7 loài thuộc giống Empicoris, Ademula và Emesopsis (phân họ Emesinae) trong đó
có 2 giống, 11 loài ghi nhận mới cho Việt Nam. Mô tả, minh họa chi tiết, công
bố loài mới, taxon mới cho khoa học 2 loài: Empicoris montanus sp.
n. và Empicoris laocaiensis sp. n -
- Đánh giá ý nghĩa và tầm quan trọng của loài bọ xít nâu bắt mồi Coranus
fuscipennis ( họ bọ xít ăn sâu Reduviidae) và 2 loài bọ xít ăn sâu Sycanus falleni và Sycanus
croceovittatus có vai trò diệt sâu hại sâu xanh, sâu khoang, sâu đo xanh,
sâu đo Plusia sp., sâu cuốn lá, sâu loang và bọ xít xanh. trên sinh quần hệ
sinh thái nông nghiệp -
Công bố 01bài báo trong hội nghị chuyên ngành và chuẩn bị xuất bản 02
bài báo trong tạp chí tạp chí quốc tế được ISI. Góp phần số liệu cho đào tạo
01 tiến sĩ (đang làm thủ tục bảo vệ cấp nhà nước) và 01 thạc sĩ (chuẩn bảo vệ
trong tháng 12/2011) |
2011 - 2013 |
460 |
253 |
||||||
|
5 |
Đề
tài: Nghiên cứu phân loại học và khu hệ học các nhóm côn trùng chủ chốt
thuộc các bộ Hai cánh (Diptera), Cánh giống (Homoptera), Cánh vảy
(Lepidoptera), Cánh cứng (Coleoptera), Cánh khác (Heteroptera), Cánh da
(Dermaptera), Cánh thẳng (Orthoptera), Bọ que (Phasmatodea) và Bọ ngựa
(Mantodea) ở Việt Nam. Mã số: 106.12.15.09 (Thuộc
hướng: Khoa học sự sống) |
PGS. TS. Tạ Huy Thịnh Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật |
Mô tả loài mới cho khoa học; Tu
chỉnh một số đơn vị phân loại; Xây dựng hệ thống khoá định loại cho một số
đơn vị phân loại; Xây dựng danh lục các loài của một số nhóm côn trùng; Ghi nhận loài mới
cho khu hệ côn trùng Việt Nam; Đánh giá tính chất phân bố địa lý của một số
nhóm côn trùng. |
- Đã triển khai 2 đợt điều tra thực địa tại miền Trung, - Đã công bố các kết quả nghiên cứu trong 17 công trình
gồm 01 bài báo đăng trong Tạp chí quốc
tế SCIE; 02 bài trong Tạp chí quốc
tế khác, 01 bài đăng trong Tạp chí
chuyên ngành, và 13 báo cáo khoa học trong các Hội nghị khoa học. |
2010-2012 |
350 |
122,5 |
||||||
|
6 |
Nguồn thực vật có tinh dầu
khu vực Bắc Trung Bộ Việt |
CN: TS. Trần Huy Thái CQ chủ trì: Viện STTNSV |
- Điều tra, đánh giá hiện
trạng nhằm phát hiện những loài cây chứa tinh dầu mới, có ý nghĩa khoa học,
có giá trị kinh tế -xã hội hoặc quí hiếm tại một số địa điểm thuộc khu vực
Bắc Trung bộ. -
Nghiên cứu hàm lượng và chất lượng tinh dầu của những loài mới, những loài
lần đầu tiên được phân tích hóa học, có giá trị khoa học và kinh tế, có tiềm
năng khai thác nhằm đề xuất những giải pháp bảo vệ, gây trồng, phát triển và
sử dụng bền vững, góp phần phục vụ nhu cầu về hương liệu trong nước, phục hồi
rừng, phát triển kinh tế vườn rừng và trang trại. |
- Đề tài đã tiến hành
các chuyến khảo sát thực địa vào tháng 5, tháng 7 năm 2011 tại một số khu vực nghiên cứu như
VQG Phong Nha, Kẻ Bàng (Quảng Bình), VQG Vũ Quang (Hà Tĩnh), VQG Bạch Mã và
vùng phụ cận nhằm điều tra hiện trạng nguồn thực vật có tinh dầu tại các địa
phương nói trên, thu mẫu cho việc xác định tên khoa học, chưng cất và phân
tích tinh dầu trong phòng thí nghiệm. -
Đã phân tích
hàm lượng và chất lượng của một số mẫu
có tinh dầu: Bách xanh núi đá (Calocedrus
ruleptris), Nô nhiều quả (Neolitsea polycarpa), Xương sông (Blumea lanceolaria), một số loài trong chi Long não như: Cinnamomum sericants, Cinnamomum durifolium, Cinnamomum magnifium;
Củ gấu biển (Cuperus stoloniferus), Sa mộc trung
quốc (Cunminghamia laceolata), Hoa
tiên (Asarum
glabrum Merr.), Thủy xương bồ lá lớn. - Đã thu thập được một số cây con và hạt giống
của một số loài trong họ Ngọc lan, họ Hoàng đàn để tiến hành công tác nhân
giống tại Trạm đa dạng sinh học Mê Linh. |
2009 - 2012 |
460 |
115 |
||||||
|
7 |
Nghiên cứu tính đa dạng và hoạt tính sinh học của một số loài thuộc chi Mít (Artocarpus Forst. & Forst. f.), họ Dâu tằm (Moraceae) ở Việt
Nam. |
CN: PGS. TS. Trần Minh Hợi CQ chủ trì: Viện STTNSV |
Nghiên cứu tính đa dạng loài
của chi Mít Artocarpus Forst.
& Forst. f.) và hoạt tính sinh học của một số loài làm cơ sở khoa học cho
việc định hướng khả năng ứng dụng làm thuốc của chúng. |
- Đã tiến hành 02 chuyến thực địa tại các tỉnh:
Sơn La, Phú Thọ, Đồng Nai... thu tiêu bản và vật mẫu cành, lá, quả của một số
loài sau: 1/ Artocarpus communis
Forst. & Forst. f. – Xa kê; 2/ Artocarpus
lakoocha Roxb. – Chay rừng; 3/ Artocarpus nigrifolius C. Y. Wu; 4/ Artocarpus
rigidus Forst. & Forst. f. –
Mít nài; 5/ Artocarpus styracifolius Pierre – Mít lá bồ đề - Đã tiến
hành thử hoạt tính sinh học các dịch chiết từ loài Mít lá đen – Artocarpus nigrifolius C. Y. Wu. -
Đang tiến hành phân tích thành phần hoá học của dịch chiết từ các bộ phận
khác nhau của loài Mít lá đen - Artocarpus nigrifolius C. Y. Wu. |
2009
- 2012 |
310 |
105,69 |
||||||
|
8 |
Đa dạng sinh học giun sán
sống tự do và ký sinh ở hệ sinh thái biển ven bờ |
CN. N.V. Thanh CCQT: IEBR CQPH: Viện HLKH Nga |
Định loại tuyến trùng và giun sán ký sinh cá |
Khảo sát thu gần 500 mẫu Xử lý phân tích mẫu tuyến trùng và mẫu giun sán ký sinh Đã công bố 06 bài trên tạp chí SCI Và 03 bài trên tạp chí quốc tế |
12/2009-2013 |
550 |
137 |
||||||
|
9 |
Đa dạng hình thái và phân tử của tuyến trùng ký sinh thực vật và ký
sinh gây bệnh côn trùng trong các hệ sinh thái nhiệt đới Việt |
CN: N.N. Châu |
Định
loại tuyến trùng ký sinh thực vật và côn trùng |
Khảo sát thu 240 mẫu đất để phân lập tuyến trùng Xử lý phân tích hình thái và phân tử tuyến trùng ký sinh thực vật và
epn Đã công bố 02 bài trên tạp chí SCI 03 bài trên Tuyển tập báo cáo HNKH TQ về ST và TNSV |
12/2009-2013 |
600 |
150 |
||||||
|
10 |
Đề tài: Nghiên cứu tính đa dạng và hệ thống học họ
Ráy (Araceae) ở Việt (Thuộc hướng: Khoa học sự
sống). |
TS.
Nguyễn Văn Dư Viện
STTN |
Nghiên
cứu tính đa dạng sinh học, hệ thống học và bảo tồn họ Ráy ở Việt |
Đã
công bố 4 bài báo KH đăng trên các tạp chí SCI và tạp chí quốc tế nổi tiếng 01
bài báo trong nước. Dự
định công bố 01 bài báo SCI và 01 bài báo trong tạp chí QG vào năm 2012 |
2010-2012 |
380 tr. |
95 |
||||||
|
11 |
Nghiên cứu phân loại và khu hệ các loài ong bắt
mồi (Hymenoptera: Vespidae) ở miền Bắc Việt |
Nguyễn Thị Phương Liên, Viện Sinh thái và Tài
nguyên sinh vật - Viện KH&CN Việt |
|
|
2011- 24th |
|
|
||||||